Hoạt động ngành, lĩnh vực

Bắc Ninh tập trung phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

02/12/2025 14:53 View Count: 19

Sau khi hợp nhất, Bắc Ninh mở rộng địa giới, sở hữu diện tích và dân số lớn hơn, trong đó có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi. Vùng dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi Bắc Ninh trở thành vùng chiến lược với nhiều tiềm năng phát triển mới về kinh tế - xã hội và văn hóa. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đặt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi vào trọng tâm chiến lược, thể hiện quyết tâm “thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập so với bình quân chung của tỉnh”. Đồng thời, Nghị quyết Đại hội xác định mục tiêu Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030; trong đó, vùng DTTS và miền núi được xem là một phần quan trọng của quá trình phát triển của tỉnh.

Trên địa bàn tỉnh vùng DTTS và miền núi hiện có 29 xã vùng DTTS và miền núi chiếm 29,2% số xã, phường, rộng trên 60% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Toàn vùng có hơn 39 vạn đồng bào DTTS chiếm 11,02% dân số tỉnh, gồm 45 thành phần dân tộc, trong đó 7 dân tộc chủ yếu. Đồng bào sinh sống rải rác ở các xã vùng cao, đời sống nhiều nơi còn khó khăn, giao thông, thủy lợi chưa đồng bộ. Đây cũng là khu vực chiếm tỷ lệ hộ nghèo cao nhất. Như báo cáo chuyên đề của tỉnh đã chỉ rõ, đến năm 2024 tỷ lệ hộ nghèo đồng bào DTTS còn 4,65%, cao gấp 2,7 lần bình quân chung, trong khi các xã đặc biệt khó khăn (ĐBKK) là 9,25%, cao gấp hơn 5 lần mức bình quân của tỉnh.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh luôn quan tâm đến công tác dân tộc, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, được cụ thể hóa bằng nhiều chương trình, dự án, chính sách với phương châm các dân tộc "Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển". Thông qua thực hiện các chính sách, cùng với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng của Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, kinh tế - xã hội vùng DTTS và miền núi Bắc Ninh đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, diện mạo vùng dân tộc thiểu số và miền núi của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, kết cấu hạ tầng nông thôn được tăng cường đầu tư, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào không ngừng cải thiện. Bình quân thu nhập đầu người vùng DTTS đã đạt khoảng 45 triệu đồng/người/năm, cơ bản bắt kịp mức bình quân chung, các trường học, trạm y tế được kiên cố hóa. Tỷ lệ hộ nghèo người dân tộc thiểu số giảm bình quân 2,42%/năm (giảm từ 11,93% năm 2021 xuống còn 4,65% năm 2024); các xã đặc biệt khó khăn giảm bình quân 4,21%/năm (giảm từ 21,9% năm 2021 xuống còn 9,25% năm 2024). Đặc biệt, đã có 8 xã đặc biệt khó khăn trong giai đoạn 2021-2025 hoàn thành mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Công tác giữ gìn, bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc được quan tâm, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi được đảm bảo. Bên cạnh đó, đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố vững chắc. Tỉnh xác định đây là tiền đề quan trọng để “xây dựng Bắc Ninh phát triển nhanh, toàn diện, bền vững”.

Tuy vậy, vùng DTTS và miền núi Bắc Ninh vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức cần khắc phục. Địa bàn rộng, địa hình phức tạp, thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, tăng trưởng kinh tế tuy cao nhưng chưa bền vững; “đời sống của một bộ phận nhân dân khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn khó khăn”. Nhiều xã miền núi chưa hoàn thành tiêu chí nông thôn mới; cơ sở hạ tầng, điện, đường, trường, trạm ở vùng sâu, vùng xa còn yếu. Chất lượng giáo dục và y tế ở miền núi thấp hơn so với đồng bằng; tỷ lệ lao động qua đào tạo chưa cao. An ninh chính trị, trật tự ở một vài địa bàn còn tiềm ẩn phức tạp. Tỷ lệ hộ nghèo vùng miền núi vẫn cao hơn nhiều so với bình quân chung (4,65% so với 1,73% của tỉnh); việc triển khai một số chính sách đặc thù chưa tạo được đột phá.

Để khắc phục hạn chế và phát huy lợi thế, Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ I (2025–2030) đặt ra mục tiêu phát triển nhanh, toàn diện và bền vững kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, nâng cao đời sống nhân dân. Trong đó, phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi được xác định theo hướng bền vững, đồng bộ hạ tầng, công bằng và hiện đại hoá dịch vụ cơ bản. Các chỉ tiêu cụ thể đặt ra cho cả tỉnh đến năm 2030 rất cao: Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,8; tuổi thọ trung bình 75,5 tuổi; thu nhập bình quân 7,84 triệu đồng/tháng; tỷ lệ lao động qua đào tạo 90% (42% có bằng cấp, 90% có kỹ năng công nghệ thông tin). Nghị quyết nhấn mạnh phấn đấu đến hết năm 2027 toàn tỉnh không còn hộ nghèo (theo chuẩn đa chiều giai đoạn 2021-2025). Kế hoạch phát triển đặt người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, lấy khoa học công nghệ và chuyển đổi số làm động lực đột phá...

Hiện thực hóa các mục tiêu trên, các cấp ủy trong toàn đảng bộ tỉnh cần thực hiện nghiêm túc đồng bộ, toàn diện các giải pháp trong tâm sau: Trước hết cần phát huy vai trò của cấp ủy, chính quyền và cộng đồng trong thực hiện thắng lợi Nghị quyết. Cấp ủy, chính quyền phải sớm tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I (2025 - 2030), xây dựng Chương trình hành động và kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện phù hợp thực tiễn địa phương. Công tác tuyên truyền cần được đẩy mạnh, phát huy vai trò của báo chí, hệ thống chính trị cơ sở để nhân dân hiểu rõ mục tiêu, lợi ích và cơ chế chính sách đi kèm. Những bài học kinh nghiệm trong xây dựng niềm tin, phát huy dân chủ và đoàn kết toàn dân mà Đại hội rút ra phải được vận dụng linh hoạt. Người đứng đầu các cấp phải nêu gương, thể hiện quyết tâm chính trị, gắn bó mật thiết với dân, giải quyết kịp thời những bức xúc về đất đai, môi trường, sinh kế ở miền núi... Cấp ủy cần tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng ở cơ sở, đảm bảo bộ máy vận hành “hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”. Xây dựng hệ thống chính trị hai cấp đồng bộ, thông suốt để biến chủ trương thành hành động quyết liệt.

Hai là, đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng, tiến hành rà soát nghiệm thu và đẩy nhanh tiến độ các công trình hạ tầng chiến lược (giao thông đa phương thức, cảng hàng không, đường vành đai…) để kết nối vùng miền núi với đô thị trung tâm. Tỉnh cần ưu tiên vốn đầu tư mở rộng mạng lưới giao thông nông thôn, hạ tầng thủy lợi, cấp điện, nước sạch đến các xã miền núi, lắp đặt Internet băng rộng, viễn thông để thu hẹp khoảng cách phát triển. Cùng với đó, đầu tư phát triển hệ thống trường học đạt chuẩn và trạm y tế hiện đại tại vùng đồng bào DTTS. Mục tiêu hướng tới là xây dựng cơ sở hạ tầng “tiêu chuẩn, hiện đại”, góp phần đổi mới sáng tạo và ứng dụng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, thích ứng biến đổi khí hậu.

Ba là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết coi khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu” để đưa Bắc Ninh phát triển bứt phá. Chính quyền các cấp đẩy mạnh xây dựng chính quyền điện tử, xã hội số, thúc đẩy thương mại điện tử, thanh toán không tiền mặt. Đẩy mạnh phong trao “Bình dân học vụ số”, đào tạo người dân vùng DTTS kỹ năng sử dụng công nghệ để tiếp cận nguồn lực số (giáo dục từ xa, y tế từ xa, thương mại điện tử nông sản…). Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước cũng được tăng cường, nhằm minh bạch, nâng cao hiệu quả điều hành ở cơ sở.

Bốn là, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, y tế. Tỉnh tập trung nâng cao chất lượng giáo dục và chăm sóc sức khoẻ toàn dân. Mục tiêu phấn đấu có 55% trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2; 40 giường bệnh và 19 bác sĩ trên 10.000 dân vào năm 2030. Nghị quyết yêu cầu “phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đầu tư cơ sở vật chất trường học chuẩn hóa, hiện đại; phấn đấu xây dựng nền giáo dục tiên tiến, hiện đại ngang tầm khu vực”. Đối với y tế, xây dựng hệ thống y tế công bằng, hiện đại, rút ngắn khoảng cách tiếp cận dịch vụ y tế giữa thành thị và nông thôn. Đặc biệt chú trọng đào tạo nghề và kỹ năng cho lao động vùng cao: phấn đấu 90% lao động đã qua đào tạo (42% có bằng cấp, 90% có kỹ năng CNTT). Cơ chế đào tạo nghề cần gắn với nhu cầu thực tế các ngành chế biến nông - lâm sản, du lịch cộng đồng, sản xuất công nghiệp và dịch vụ trong vùng.

Năm là, tập trung bảo vệ môi trường, phát triển bền vững trong quá trình phát triển kinh tế. Tăng cường quản lý và phục hồi môi trường tự nhiên ở vùng miền núi. Nghị quyết nhấn mạnh kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu. Cụ thể, tỷ lệ người dân sử dụng nước sạch đạt chuẩn 96,4% (đô thị 100%, nông thôn 93,8%). Các cơ sở sản xuất kinh doanh ở miền núi phải tuân thủ 100% quy định môi trường; xử lý triệt để các điểm nóng ô nhiễm tại làng nghề. Chú trọng tái thiết cảnh quan rừng, đạt tỷ lệ che phủ rừng trên 30,65% vào năm 2030. Việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử cũng được đề cao nhằm thúc đẩy du lịch và bảo vệ môi trường sinh thái bản địa.

Sáu là, tăng cường củng cố thế trận lòng dân gắn với quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc. Ở vùng đồng bào DTTS, đề cao cảnh giác với các tệ nạn, đẩy mạnh phòng chống ma túy để đảm bảo “ít nhất 50% xã, phường không có ma túy”. Đẩy mạnh tuyển chọn, bồi dưỡng cán bộ, đồng bào người DTTS tham gia lực lượng vũ trang tại địa phương. Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành then chốt, tạo nguồn lực phát triển cho vùng miền núi.

Cuối cùng, tập trung cao xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên và hệ thống chính trị vững mạnh vùng DTTS và miền núi. Cần ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cả năng lực chuyên môn và nhận thức chính trị cho đội ngũ cán bộ vùng DTTS đáp ứng yêu cầu Nghị quyết Đại hội lần I, đó là chú trọng “xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp… đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và có khát vọng đưa tỉnh ngày càng phát triển”. Mặt khác, tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, chỉnh đốn kỷ luật, đoàn kết nội bộ. Các cấp ủy đặc biệt quan tâm xây dựng đảng viên và cán bộ người dân tộc tiên phong, gương mẫu, gắn bó mật thiết với Nhân dân, làm nòng cốt cho phong trào thi đua yêu nước ở cơ sở. Cùng với đó, cần kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thực thi công vụ và thực hiện các dự án đầu tư vùng đồng bào DTTS và miền núi bảo đảm nguồn lực đầu tư đến đúng mục tiêu vùng khó khăn.

TS. Dương Ngô Ninh