Tin hoạt động của cơ quan

Cơ quan công tác dân tộc của tỉnh Bắc Ninh, 80 năm - xây dựng và phát triển

28/04/2026 10:10

Trong chặng đường 80 năm qua của cơ quan làm công tác dân tộc, hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc của tỉnh, tuy có bước thăng trầm nhưng đã gắn liền với nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử cách mạng. Từ những ngày đầu thành lập đến nay, đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc tỉnh ta đã phát huy vai trò tham mưu, luôn gần dân, sát dân, hiểu dân, kịp thời đưa chính sách của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống; đồng thời triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách ưu đãi, góp phần làm thay đổi toàn diện diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN).

Cách đây tròn 80 năm, ngày 3/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 58/SL thành lập Nha Dân tộc thiểu số - thuộc Bộ Nội vụ. Đây là một sự kiện lịch sử, đánh dấu sự ra đời của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Bác Hồ về khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trải qua 80 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngành công tác dân tộc đã không ngừng trưởng thành, nỗ lực vượt qua khó khăn, thực hiện nhất quán nguyên tắc: "Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển". Chính sách dân tộc đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước.

Tại tỉnh Bắc Ninh, Sở Dân tộc và Tôn giáo (trước đây là Ban Dân tộc) được thành lập từ năm 1959, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh ủy. Ngày 10/3/1988, Tỉnh ủy Hà Bắc ra Nghị quyết số 234/NQ/TU về việc hợp nhất Ban Dân vận và Ban Dân tộc chuyển thành Ban Dân vận Tỉnh ủy. Năm 1995, bộ phận (cơ quan) làm công tác dân tộc tỉnh được tách ra với tên gọi Ban Dân tộc và Miền núi theo Nghị định số 11/CP ngày 20/2/1993 của Chính phủ. Thực hiện Nghị định số 53/2004/NĐ-CP ngày 18/2/2004 của Chính phủ về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc thuộc UBND các cấp, Ban Dân tộc và Miền núi được đổi tên thành Ban Dân tộc và nay là Sở Dân tộc và Tôn giáo.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về sắp xếp, tinh gọn bộ máy; từ ngày 01/3/2025 đến nay, cơ quan công tác dân tộc các cấp rất vinh dự được tiếp nhận thêm nhiệm vụ quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo từ Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang (cũ) và Sở Nội vụ tỉnh Bắc Ninh. Theo Quyết định số 03/2025/QĐ-UBND ngày 01/7/2025 của UBND tỉnh Bắc Ninh, Sở là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo. Việc thiết lập hệ thống quản lý nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo tại 03 cấp (Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã) từ năm 2025 theo Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ thể hiện sự quan tâm sâu sắc, sự tin tưởng đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với công tác dân tộc, tôn giáo; đồng thời cũng là nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp, nhạy cảm, yêu cầu cao trước những vấn đề đặt ra từ thực tiễn trong giai đoạn hiện nay “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bắc Ninh, suốt chặng đường lịch sử, Sở Dân tộc và Tôn giáo luôn đồng hành cùng nhân dân các DTTS thực hiện tốt các nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử. Trong chặng đường 80 năm qua của cơ quan làm công tác dân tộc, hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc của tỉnh, tuy có bước thăng trầm nhưng đã gắn liền với nhiệm vụ của từng giai đoạn lịch sử cách mạng. Từ những ngày đầu thành lập đến nay, đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc tỉnh ta đã phát huy vai trò tham mưu, luôn gần dân, sát dân, hiểu dân, kịp thời đưa chính sách của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống; đồng thời triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách ưu đãi, góp phần làm thay đổi toàn diện diện mạo vùng đồng bào DTTS&MN. Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, công tác dân tộc của tỉnh đã đạt được những thành tựu nổi bật đó là:

1- Công tác tham mưu, triển khai thực hiện các chương trình, chính sách dân tộc ngày càng hiệu quả, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN

Bám sát định hướng, chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc của tỉnh đã tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc của trung ương, đặc biệt là Chương trình 135 (giai đoạn 1997-2020) và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I, từ 2021-2025. Qua đó đã đầu tư xây dựng 11 Trung tâm cụm xã và hơn 2.139 công trình hạ tầng thiết yếu; hỗ trợ cải thiện nhà ở cho 4.320 hộ; hỗ trợ chuyển đổi nghề cho trên 5.500 hộ; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 10.564 hộ; đầu tư xây dựng 107 công trình nước sinh hoạt tập trung, đáp ứng nhu cầu nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho đồng bào DTTS…

Ngoài ra, tham mưu với Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành một số chế độ chính sách đối với những người cao tuổi có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; một số chính sách đối với người Hoa; chính sách hỗ trợ bảo tồn, phát huy tiếng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2024-2030; 2026-2030; đặc biệt là Chương trình số 22-CTr/TU ngày 28/3/2026 phát triển vùng đồng bào DTTS&MN tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026-2030... Thông qua việc thực hiện các chính sách đã từng bước hình thành các trung tâm kinh tế vùng DTTS, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường, giảm nghèo một cách bền vững, thu hẹp khoảng cách về mức sống giữa vùng dân tộc với các vùng khác trong tỉnh, giữa các dân tộc trên địa bàn.

2- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng DTTS được đầu tư nâng cấp, hoàn thiện; an sinh xã hội ngày càng chuyển biến tích cực

Cơ sở hạ tầng vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS đã có những bước phát triển vượt bậc, điện - đường - trường - trạm được nâng cấp. Đến nay, 100% thôn, bản có điện lưới quốc gia, 99,99% các hộ được sử dụng điện; tỷ lệ đường trục xã, liên xã được nhựa hóa, bê tông hóa 95,8%; 100% xã có trạm y tế; 100% các xã đều có Trung tâm Văn hóa - Thể thao, trong đó có 10 xã, phường có Trung tâm Văn hóa - Thể thao đạt chuẩn; 98% thôn, bản có nhà văn hóa, trong đó tỷ lệ nhà văn hóa đạt chuẩn là 70,6%; tỷ lệ trường mầm non, tiểu học, THCS, THPT tại các xã vùng DTTS&MN cơ bản đạt chuẩn giai đoạn 1. Hạ tầng viễn thông và Internet được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin và ứng dụng công nghệ, góp phần nâng cao đời sống và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Công tác giảm nghèo được các cấp, các ngành quan tâm triển khai đồng bộ và đạt nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 1,82%/năm (từ 11,93% năm 2021 xuống còn 4,64% năm 2025); các xã vùng dân tộc thiểu số giảm bình quân 1,99%/năm (từ 9,98% xuống còn 2%). Đặc biệt, các xã đặc biệt khó khăn giảm mạnh, bình quân 4,41%/năm. Đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân từng bước được cải thiện; nhận thức về giảm nghèo bền vững được nâng lên rõ rệt.

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe ban đầu được quan tâm đầu tư, chất lượng y tế cơ sở từng bước được nâng lên. Đến nay, 100% thôn thuộc các xã vùng DTTS có nhân viên y tế; 100% trạm y tế có bác sĩ và có y sỹ sản nhi hoặc nữ hộ sinh. 100% người DTTS tại các xã khó khăn được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí; tỷ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt khoảng 85%.

3- Bản sắc văn hóa đặc sắc của các dân tộc được tôn trọng, bảo tồn và phát huy

Một số lễ hội truyền thống của đồng bào: Lễ hội Sloong hao và chợ tình Thác Lười, Ngày lễ hội Từ Hả, Lễ hội Đền Suối Mỡ, Lễ hội Tây Yên Tử, hát Then - đàn tính của dân tộc Tày, Nùng; dân ca Sán Chí, Cao Lan... Các lễ hội, phong tục, tập quán truyền thống tốt đẹp của đồng bào các DTTS được bảo tồn và phát huy. Thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng đã từng bước đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân, góp phần bảo tồn, giữ gìn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể, đồng thời khai thác phát triển du lịch, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho người dân vùng sâu, vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn.

4- Khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố vững chắc, lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước được nâng cao.

 Hệ thống chính trị ở vùng đồng bào DTTS và vùng có đạo trên địa bàn tỉnh không ngừng được củng cố, kiện toàn; hiệu lực, hiệu quả hoạt động ngày càng nâng cao. Khối đại đoàn kết các dân tộc, đoàn kết tôn giáo được giữ vững và phát huy; đồng bào các DTTS và đồng bào có đạo đoàn kết, tin tưởng, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội luôn ổn định, qua đó tạo động lực để Bắc Ninh phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới…

Qua các thời kỳ cách mạng, cơ quan làm công tác dân tộc ở tỉnh ta với những tên gọi khác nhau, hình thức tổ chức khác nhau, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, cơ quan làm công tác dân tộc luôn đồng hành đi sâu sát cơ sở, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của đồng bào các dân tộc, làm tốt công tác tham mưu với cấp uỷ, chính quyền các cấp để xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc, chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách, chương trình, dự án đầu tư phát triển kinh tế-xã hội, xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao.

Năm 2025, đánh dấu bước ngoặt quan trọng đối với tỉnh Bắc Ninh mới khi hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh cũ sáp nhập theo chỉ đạo của Trung ương. Với diện tích 4.718,6 km², dân số trên 3,6 triệu người, gồm 99 đơn vị hành chính cấp xã (33 phường, 66 xã). Tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2025 ước đạt trên 522 nghìn tỉ đồng; tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 10,27%, đứng thứ 5 cả nước, GRDP bình quân đầu người ước đạt 5.852 USD, cao gấp 1,16 lần mức bình quân cả nước.

Tuy nhiên, vùng đồng bào DTTS tỉnh Bắc Ninh bên cạnh những thuận lợi, còn nhiều khó khăn, thách thức đặt ra: vùng đồng bào DTTS vẫn là "lõi nghèo" của tỉnh với tỷ lệ hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn cao gấp 4,7 lần mức bình quân chung toàn tỉnh; kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao, đặc biệt sau thiên tai, dịch bệnh. Hệ thống giao thông trục thôn, ngõ xóm chưa được nhựa hóa, bê tông hóa còn chiếm tỷ lệ lớn với khoảng 800km chưa được cứng hóa, gây khó khăn cho việc lưu thông hàng hóa; tỷ lệ hộ dân được tiếp cận nước sạch tập trung rất thấp (chỉ đạt 8,67%) với hơn 6.000 hộ thường xuyên thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Hạ tầng y tế và giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu, 29/30 xã chưa đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn đến năm 2030; nhiều trường học tại các xã đặc biệt khó khăn đã xuống cấp nghiêm trọng, thiếu phòng học và diện tích không đảm bảo quy định. Công tác tiếp cận thông tin, phương tiện truyền thông và kỹ năng sử dụng máy vi tính, Internet của đồng bào còn nhiều hạn chế. Bản sắc văn hóa truyền thống của một số dân tộc tiềm ẩn nguy cơ mai một nhanh, trình độ dân trí còn thấp và không đồng đều, dễ bị các thế lực lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc, kích động gây mất an ninh- trật tự. Bên cạnh đó thiên tai, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi và cả con người sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp, sự biến đổi khí hậu, môi trường... gây ảnh hưởng tới hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của người dân, nhất là đồng bào DTTS.

Trước những khó khăn, thách thức đó, để thực hiện có hiệu quả công tác dân tộc, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, góp phần giảm nguy cơ tụt hậu và rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với các vùng khác trong tỉnh, công tác dân tộc tỉnh Bắc Ninh cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, Thực hiện hiệu quả các chủ trương của Đảng về công tác dân tộc, nhất là các mục tiêu của Đại hội XIV của Đảng. Lấy kết quả cải thiện đời sống đồng bào dân tộc làm thước đo hiệu quả công tác, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.

Hai là, Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả các nội dung, dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030, đặc biệt Chương trình số 22-CTr/TU ngày 28/3/2026 của Tỉnh ủy phát triển vùng đồng bào DTTS&MN tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2026-2030. Tăng cường nghiên cứu, đề xuất ban hành chính sách đặc thù của tỉnh đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn nhất của tỉnh.

Ba là, Tăng cường đổi mới trong tiếp cận thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, hỗ trợ kiến thức để chuyển giao khoa học kỹ thuật phát triển sản xuất, phát huy tiềm năng, lợi thế về tự nhiên và xã hội của vùng DTTS&MN của tỉnh; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái; chú trọng phát triển những sản phẩm có giá trị kinh tế cao theo chuỗi giá trị; xây dựng mô hình theo Chương trình OCOP của từng địa phương, đơn vị

Bốn là, Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc "Vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, am hiểu về văn hóa", thực sự là cầu nối vững chắc giữa Đảng, chính quyền với đồng bào các dân tộc

Năm là, Tăng cường quốc phòng - an ninh, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững chắc ở vùng đồng bào DTTS&MN, vùng có đạo; tổ chức tốt công tác nắm tình hình ở cơ sở, tâm tư, nguyện vọng của đồng bào DTTS, trên cơ sở đó kịp thời tham mưu cho cấp có thẩm quyền giải quyết các tình huống phát sinh, không để hình thành các “điểm nóng” về an ninh, trật tự, tranh chấp đất đai; giải quyết kịp thời những phức tạp liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mới, tà đạo vùng DTTS.

Sáu là, Thực hiện tốt công tác bảo tồn, khôi phục, giữ gìn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, gắn với phát triển du lịch bền vững.

Với truyền thống từ những trang sử vàng 80 năm xây dựng và phát triển. Hệ thống cơ quan công tác dân tộc và tôn giáo tỉnh ta bên cạnh những thời cơ thuận lợi, còn có nhiều thách thức cần vượt qua trong thời gian tới. Nhưng tin tưởng rằng, dưới sự quan tâm, lãnh chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ của các cấp, các ngành liên quan, địa phương và sự đồng thuận của Nhân dân, hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc của tỉnh tiếp tục nỗ lực, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của tỉnh nhà, vì sự phát triển chung của đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Ong Tuyết