Bắc Ninh là một tỉnh đa dân tộc, đa tôn giáo, đa dạng về văn hóa và tín ngưỡng. Với 45 thành phần dân tộc thiểu số; trong đó, 06 thành phần DTTS chủ yếu chiếm số đông: Dân tộc Nùng, Tày, Sán Dìu, Hoa, Sán Chay (Sán Chí và Cao Lan), Dao và 39 thành phần DTTS khác với số dân rất ít) cùng sinh sống, mỗi dân tộc lại có những nét văn hóa, phong tục tập quán riêng, tạo nên tính phong phú, đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Toàn tỉnh hiện có 24 tổ chức tôn giáo trực thuộc, 491.000 tín đồ, 142 chức sắc, chức việc, trên 5.000 cơ sở thờ tự. Thực tiễn đã khẳng định, công tác quản lý nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo là một lĩnh vực đặc thù, nhạy cảm và có ý nghĩa chiến lược đối với sự ổn định chính trị - xã hội.
Ảnh: Toàn cảnh Hội nghị đánh giá công tác dân tộc, tôn giáo sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy và tổ chức thực hiện chính quyền địa phương hai cấp
(Nguồn: Báo Nhân dân)
Trong thời gian qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương tới địa phương, đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo trực tiếp của Lãnh đạo Uỷ ban dân tộc, nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Nội vụ, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp của các sở, ngành và chính quyền các cấp, sự đoàn kết, thống nhất của đội ngũ công chức, viên chức, người lao động, công tác quản lý nhà nước về công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng được quan tâm và đạt được nhiều thành tựu quan trọng:
Công tác dân tộc: Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các cơ quan chuyên môn về công tác dân tộc đã tham mưu cho UBND các cấp ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, triển khai thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách đặc thù thuộc vùng dân tộc thiểu số; các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn. Từ năm 2021 đến nay, Tỉnh uỷ, UBND các cấp ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa các chủ trương như: Nghị quyết số 71/2024/NQ-HĐND ngày 08/10/2024 quy định một số chính sách hỗ trợ bảo tồn, phát huy tiếng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2024-2030; Kế hoạch số 511/KH-UBND ngày 15/10/2021 về đầu tư xây dựng công trình ngầm, cầu dân sinh trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Bắc Giang, giai đoạn 2022-2024; Kế hoạch số 511/KH-UBND ngày 15/10/2021 về các chính sách dân tộc khác trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Kế hoạch số 379/KH-UBND ngày 21/6/2022 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025...
Công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý… thuộc lĩnh vực công tác dân tộc được cơ quan chuyên môn từ tỉnh đến xã phối hợp với các cơ quan, đoàn thể có liên quan triển khai thực hiện dưới nhiều hình thức, mang lại hiệu quả tích cực trong nhân dân, qua đó nâng cao nhận thức của người dân trong thực hiện chính sách, pháp luật, góp phần tháo gỡ vướng mắc pháp luật cho người dân ngay tại cơ sở. Công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án tại vùng dân tộc thiểu số được quan tâm triển khai thực hiện theo quy định của pháp luật. Công tác tổ chức, rà soát, bình chọn, tham mưu ra quyết định công nhận người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số hàng năm được thực hiện đúng quy trình, đảm bảo công khai minh bạch, đúng đối tượng và đúng chế độ; hoạt động thăm hỏi, động viên, thực hiện chế độ đối với người có uy tín đầy đủ, đảm bảo theo quy định; đến nay, toàn tỉnh có 520 người có uy tín.
Nhiều chương trình, dự án, chính sách an sinh xã hội cho đồng bào dân tộc được triển khai, mang lại hiệu quả thiết thực; tạo thuận lợi cho đồng bào dân tộc yên tâm canh tác, lao động, sản xuất... góp phần nâng cao năng suất và sản lượng, xóa đói giảm nghèo (Tỷ lệ hộ nghèo người dân tộc thiểu số giảm bình quân 2,42%/năm (giảm từ 11,93% năm 2021 xuống còn 4,65% năm 2024); tỷ lệ hộ nghèo các xã đặc biệt khó khăn giảm bình quân 4,21%/năm (giảm từ 21,9% năm 2021 xuống còn 9,25% năm 2024); tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Hạ tầng nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa được đầu tư cải thiện rõ rệt; văn hóa truyền thống các dân tộc được quan tâm bảo tồn và phát huy; nhiều di sản được công nhận, gìn giữ...
Công tác tín ngưỡng, tôn giáo: Tình hình tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh cơ bản ổn định về mọi mặt, các cấp các ngành đã tích cực, chủ động tham mưu cho Tỉnh ủy, Ban Chỉ đạo công tác tôn giáo tỉnh, Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành các văn bản, lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào tôn giáo được nâng lên, các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh thực hiện đúng quy định của giáo luật và quy định của pháp luật, góp phần củng cố lòng tin của chức sắc, chức việc, tín đồ các tôn giáo vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương. Hàng năm, tổ chức thăm hỏi, tặng quà tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc đau ốm, khó khăn và nhân dịp các ngày lễ trọng của các tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo tiếp tục thể hiện tinh thần gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Tuyệt đại đa số chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt vai trò, nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân với đất nước, tích cực hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, vì cộng đồng với số tiền từ hàng trăm đến hàng tỷ đồng mỗi năm...: Cung rước và tôn trí Xá lợi Phật tại chùa Phúc Sơn, xã Cao Xá, huyện Tân Yên (cũ); Lễ hội Xương và Lê hội chùa Vĩnh Nghiêm, thành phố Bắc Giang (cũ); Lễ hội chùa Bổ, thị xã Việt yên (cũ); Lế hội Đền Đô, thành phố Từ Sơn (cũ)...
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo vẫn còn gặp những khó khăn, đó là:
Trong công tác dân tộc: Khoảng cách về trình độ phát triển, đời sống văn hoá, thu nhập, cơ sở hạ tầng và tiếp cận các dịch vụ công giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa với các khác vẫn có sự chênh lệch. Các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề “quyền của người dân tộc thiểu số” để xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước; thúc đẩy các yêu sách ly khai, tự trị dân tộc, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ, người có uy tín tiêu biểu trong vùng dân tộc thiểu số còn những hạn chế nhất định.
Trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo: Một số tổ chức, cá nhân lợi dụng tôn giáo để truyền bá tư tưởng cực đoan, hoạt động trái pháp luật, gây mất ổn định chính trị, xã hội. Hệ thống thông tin, dữ liệu về Phật giáo, đặc biệt sau sáp nhập tỉnh chưa đầy đủ, thiếu tính hệ thống và đồng bộ, khó khăn cho việc khai thác, phân tích phục vụ công tác quản lý. Công tác quản lý Tăng Ni, tu viện còn chưa chặt chẽ. Vấn đề đất đai, xây dựng cơ sở thờ tự chưa được giải quyết dứt điểm, dễ phát sinh điểm nóng, khiếu kiện, gây mất an ninh trật tự. Xu hướng tôn giáo mới và hoạt động trên không gian mạng phát triển nhanh gây khó khăn cho công tác quản lý do thiếu hành lang pháp lý, dễ bị lợi dụng truyền bá nội dung sai trái, chống phá Nhà nước. Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở cơ sở không ổn định, nhiều cán bộ mới thiếu kinh nghiệm trong tham mưu, xử lý tình huống phát sinh tại cơ sở…
Để nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo trong tời gian tới, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:
Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, sử dụng linh hoạt các kênh thông tin (mạng xã hội, cổng thông tin điện tử, báo chí, phát thanh...) trong công tác truyền thông; kịp thời đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.
Hai là, tiếp tục củng cố đội ngũ cán bộ và quan tâm bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo cấp xã nhằm nâng cao năng lực nắm, phân tích, dự báo tình hình; tham mưu, đề xuất và giải quyết công việc đảm bảo hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị được giao. Chú trọng giải quyết công việc ngay từ cơ sở, không để tạo thành điểm nóng hoặc các vấn đề phức tạp liên quan tới dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.
Ba là, Đổi mới phương thức làm việc theo hướng áp dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong các công việc, kết hợp các phương pháp truyền thống với ứng dụng công nghệ thông tin, mạng xã hội để kịp thời phát hiện, xử lý các vấn đề từ khi mới phát sinh ngay tại cơ sở.
Bốn là, tăng cường công tác đối thoại, phát huy vai trò của chức sắc, chức việc, người có uy tín trong các tổ chức tôn giáo, cộng đồng tín ngưỡng và đồng bào dân tộc thiểu số để đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo trong khối đại đoàn kết chung.
Năm là, tiếp tục quan tâm củng cố hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng tôn giáo; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác dân tộc, tôn giáo chuyên nghiệp, hiện đại; quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số để làm công tác dân tộc và tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó ưu tiên trong tuyển dụng con em các dân tộc thiểu số sau khi hoàn thành chương trình học tập, đào tạo tại các trường chuyên nghiệp.
Với tinh thần đổi mới, sáng tạo và quyết tâm cao cùng với các giải pháp nêu trên, thời gian tới, công tác quản lý nhà nước về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo sẽ đạt được những bước tiến, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.