Chương trình mục tiêu Quốc gia

Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030

10/02/2026 16:55

Ngày 31/01/2026, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ký ban hành Quyết định số 417/QĐ-BNNMT phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035. Đây là văn bản pháp lý quan trọng cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội nhằm tạo ra bước đột phá toàn diện cho khu vực nông thôn và vùng đặc biệt khó khăn trong thập kỷ tới.


Ảnh:Trường bán trú Dương Hưu (được đầu tư từ nguồn vốn Chương trình MTQG phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2025)

Theo đó, mục tiêu của Chương trình là xây dựng nông thôn mới hiện đại, giàu đẹp, bản sắc, bền vững, gắn với đô thị hóa và thích ứng biến đổi khí hậu. Phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững, bảo đảm bình đẳng giới và an sinh xã hội. Phát triển kinh tế nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn, sinh thái, gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp để nâng cao thu nhập, chất lượng cuộc sống và thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền, nhóm dân cư, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi so với các vùng khác. Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của cộng
đồng các dân tộc thiểu số; nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với
các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; củng cố khối đại đoàn kết
toàn dân tộc. Bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội, nhất là
các vùng chiến lược, biên giới và hải đảo. Cụ thể đến năm 2030: Phấn đấu tăng thu nhập bình quân của người dân nông thôn gấp 2,5 – 3 lần so với năm 2020, tăng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 bình quân chung của cả nước; Phấn đấu tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước duy trì mức giảm 1% -1,5%/năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%; Phấn đấu vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; Phấn đấu cả nước có khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có khoảng 10% số xã được công nhận đạt nông thôn mới hiện đại; phấn đấu có 05 tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.


Ảnh Trạm Y tế xã An Lạc (Đầu tư từ nguồn vốn CTMTQG giảm nghèo bền vững)

Về quy mô triển khai, Chương trình thực hiện trên phạm vi cả nước; ưu tiên các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo. Đối tượng thụ hưởng là các xã, thôn, người dân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp và các tổ chức khác có liên quan trên địa bàn cả nước, trong đó ưu tiên hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo (trong vòng 36 tháng, kể từ thời điểm hộ được cấp có thẩm quyền công nhận thoát nghèo), vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo.

Chương trình được ban hành với 2 hợp phần: Hợp phần thứ nhất gồm 10 nội dung thành phần và 52 nội dung cụ thể, thực hiện trên phạm vi toàn quốc; chỉ thực hiện tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đối với những nội dung Hợp phần thứ hai không quy định, nhằm đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu của Chương trình; Hợp phần thứ hai là các nội dung đặc thù phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN gồm 05 nội dung thành phần và 23 nội dung cụ thể, thực hiện trên phạm vi vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chỉ thực hiện ngoài vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đối với những nội dung mang tính đặc thù của ngành công tác dân tộc và không quy định trong Hợp phần thứ nhất.

Để hiện thực hóa các mục tiêu của Chương trình, tổng nguồn lực huy động dự kiến lên tới khoảng 1,044 triệu tỷ đồng cho giai đoạn 5 năm đầu tiên. Trong đó, ngân sách trung ương đóng vai trò chủ đạo với 100.000 tỷ đồng, kết hợp cùng 300.000 tỷ đồng từ ngân sách địa phương và khoảng 360.000 tỷ đồng từ nguồn vốn lồng ghép. Ngoài ra, vốn tín dụng chính sách xã hội và sự đóng góp tự nguyện từ doanh nghiệp, cộng đồng cũng chiếm tỷ trọng đáng kể, đảm bảo nguồn tài chính đa dạng cho các dự án hạ tầng, sinh kế và chuyển đổi số.

Chi tiết xem lại Quyết định 417/QĐ-BNNMT tại đây.

Trần Quyên