Chương trình mục tiêu Quốc gia

Thực trạng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Khoảng cách phát triển còn lớn

06/06/2026 11:10

         Những cánh rừng bạt ngàn, những hồ nước rộng lớn cùng kho tàng văn hóa đặc sắc của 42 dân tộc anh em đã tạo nên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Bắc Ninh những lợi thế riêng có để phát triển lâm nghiệp, du lịch sinh thái và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống. Đây là vùng đất giàu tiềm năng, giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của tỉnh. Tuy nhiên, những tiềm năng ấy vẫn chưa được khai thác tương xứng để tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho khu vực miền núi. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện vẫn là khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất của tỉnh, nơi khoảng cách phát triển với các địa bàn thuận lợi hơn còn thể hiện rõ qua thu nhập, tỷ lệ hộ nghèo, kết cấu hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Ảnh Minh họa một số xã vùng đồng bào DTTS và MN

          Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Bắc Ninh gồm 30 xã và 9 thôn, chiếm khoảng 58% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Đây là nơi sinh sống của hơn 274 nghìn đồng bào dân tộc thiểu số thuộc 42 thành phần dân tộc. Địa hình chủ yếu là đồi núi, bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn, dân cư phân bố không đồng đều. Những đặc điểm tự nhiên này vừa tạo nên lợi thế riêng có, vừa đặt ra nhiều thách thức trong đầu tư kết cấu hạ tầng, tổ chức sản xuất và nâng cao chất lượng đời sống người dân.

          Những năm qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và của tỉnh, diện mạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã có nhiều chuyển biến tích cực. Hệ thống điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế từng bước được đầu tư; các chính sách an sinh xã hội được triển khai đồng bộ; tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua từng năm. Tuy nhiên, những kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của khu vực khi nhiều khó khăn, thách thức vẫn đang hiện hữu.

Ảnh: Đường vào thôn Nà Trắng xã An Lạc

          Một trong những khó khăn nổi bật hiện nay là bài toán nâng cao thu nhập và giảm nghèo bền vững cho người dân. Các xã đặc biệt khó khăn vẫn là khu vực có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất của tỉnh, cao gấp 4,7 lần mức bình quân chung. Thu nhập bình quân đầu người tại nhiều địa phương chỉ bằng khoảng 40 - 50% mức trung bình của toàn tỉnh. Theo dự báo, khi áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn mới, tỷ lệ nghèo đa chiều ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn ở mức trên 11%, riêng các xã đặc biệt khó khăn khoảng 20%. Đằng sau những con số đó là thực tế sinh kế của người dân còn thiếu tính bền vững. Nông nghiệp và lâm nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chủ yếu của phần lớn hộ gia đình nhưng sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, quy mô hàng hóa chưa lớn và thiếu liên kết với doanh nghiệp. Nhiều sản phẩm đặc trưng của địa phương vẫn chủ yếu tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô, giá trị gia tăng thấp. Kinh tế lâm nghiệp được xác định là thế mạnh của khu vực miền núi nhưng tiềm năng vẫn chưa được khai thác tương xứng. Phần lớn diện tích rừng hiện nay mới tập trung vào khai thác nguyên liệu, chưa hình thành nhiều mô hình sản xuất có giá trị cao gắn với chế biến sâu, phát triển dược liệu hay dịch vụ môi trường rừng. Những lợi thế về tài nguyên thiên nhiên vì thế vẫn chưa thực sự chuyển hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân. Bên cạnh đó, việc tiếp cận công nghệ thông tin, internet và các nền tảng số của người dân còn hạn chế; nhiều hộ gia đình chưa có kỹ năng khai thác hiệu quả các ứng dụng số phục vụ sản xuất, kinh doanh, quảng bá sản phẩm và tiếp cận thị trường. Khoảng cách số giữa miền núi và miền xuôi vì thế vẫn còn khá lớn, làm giảm khả năng tiếp cận các cơ hội phát triển mới và ảnh hưởng đến quá trình nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững của người dân.

Ảnh: Đường từ trung tâm xã  đi thôn Ké, thôn Mỏ xã Sơn Động

          Cùng với những khó khăn về sinh kế, hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội và các công trình thiết yếu vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Mặc dù đã được quan tâm đầu tư trong nhiều năm qua nhưng hiện vẫn còn khoảng 800 km đường trục thôn, ngõ xóm chưa được cứng hóa; nhiều tuyến giao thông xuống cấp gây khó khăn cho việc đi lại, giao thương và vận chuyển hàng hóa. Trong lĩnh vực thủy lợi, hơn 56% chiều dài kênh mương nội đồng chưa được kiên cố hóa, hàng trăm hồ chứa và công trình thủy lợi đã xuống cấp cần được sửa chữa, nâng cấp. Đáng chú ý, nhu cầu sử dụng nước sạch ngày càng tăng nhưng tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch từ các công trình cấp nước tập trung mới đạt khoảng 8,67%. Hạ tầng chưa đồng bộ không chỉ ảnh hưởng đến đời sống dân sinh mà còn làm giảm hiệu quả sản xuất, hạn chế khả năng thu hút đầu tư và thích ứng với thiên tai, biến đổi khí hậu.

Ảnh: Phòng học tại trường THCS Lục Sơn

          Bên cạnh những khó khăn về sinh kế và hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực cùng các điều kiện giáo dục, y tế, văn hóa ở nhiều địa phương miền núi vẫn còn không ít hạn chế. Nhiều trường học tại các xã đặc biệt khó khăn đã xuống cấp, thiếu phòng học và các hạng mục phụ trợ; địa bàn rộng, dân cư phân tán khiến không ít học sinh phải đi học xa. Những điều kiện học tập còn nhiều khó khăn đã ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và công tác nâng cao dân trí. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ hiện mới đạt khoảng 32%; phần lớn lao động vẫn làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp với năng suất chưa cao, khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật và các phương thức sản xuất hiện đại còn hạn chế. Mạng lưới y tế cơ sở đã được phủ rộng nhưng chất lượng hạ tầng và trang thiết bị chưa đồng đều; hiện có tới 29/30 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chưa đạt tiêu chí quốc gia về y tế, nhiều công trình xuống cấp, chưa đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe Nhân dân trong tình hình mới. Không chỉ còn những hạn chế về giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khỏe Nhân dân, việc phát huy các giá trị văn hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực miền núi cũng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế sẵn có. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đang sở hữu kho tàng văn hóa truyền thống phong phú cùng nhiều danh lam thắng cảnh, điểm du lịch hấp dẫn như Đồng Cao, Khe Rỗ, hồ Cấm Sơn, Khe Khuổi, Bản Ven hay Bắc Hoa. Đây là những nguồn tài nguyên quý giá có thể trở thành động lực phát triển kinh tế, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, hoạt động du lịch ở nhiều địa phương vẫn mang tính tự phát, quy mô nhỏ; hạ tầng dịch vụ du lịch còn hạn chế; các sản phẩm du lịch đặc trưng chưa nhiều; chưa thu hút được các nhà đầu tư chiến lược. Vì vậy, những lợi thế về văn hóa và cảnh quan thiên nhiên vẫn chưa được khai thác hiệu quả để trở thành nguồn lực phát triển bền vững của khu vực miền núi.

Ảnh: Công trình Trạm Y tế xã Tuấn Đạo

          Có thể thấy, khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với các địa bàn thuận lợi hơn trong tỉnh vẫn còn khá lớn, thể hiện qua nhiều chỉ số về thu nhập, tỷ lệ hộ nghèo, kết cấu hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Những khoảng cách đó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của đồng bào các dân tộc mà còn tác động đến mục tiêu phát triển cân bằng, bền vững và bao trùm của toàn tỉnh.

          Chính từ thực tiễn đó, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Chương trình số 22-CTr/TU về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Với định hướng tập trung giải quyết những khó khăn, phát huy tiềm năng, lợi thế của từng địa phương và nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, Chương trình được kỳ vọng sẽ tạo động lực mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi, đưa những tiềm năng sẵn có trở thành nguồn lực thực sự cho tăng trưởng bền vững trong những năm tới.

Trần Quyên