Những cánh rừng xanh không chỉ là tài sản quý giá của thiên nhiên mà còn là nền tảng cho phát triển bền vững ở nhiều địa phương miền núi. Giữ rừng hôm nay không chỉ để bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học mà còn để tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và mở ra cơ hội phát triển cho người dân. Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nơi đời sống của một bộ phận người dân vẫn còn nhiều khó khăn, rừng càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi vừa là nguồn lực phát triển kinh tế, vừa là không gian sinh tồn gắn bó với cộng đồng qua nhiều thế hệ.
Từ nhận thức đó, những năm qua tỉnh Bắc Ninh đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, trong đó Tiểu dự án 1 thuộc Dự án 3 của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 đã mang lại nhiều kết quả tích cực, góp phần gắn công tác bảo vệ rừng với cải thiện đời sống người dân.
Ảnh: Rừng tự nhiên trên địa bàn xã Tuấn Đạo
Tỉnh Bắc Ninh hiện có trên 157.700 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó gần 55.000 ha rừng tự nhiên. Toàn tỉnh có 70 xã, phường có rừng với diện tích phân bố chủ yếu tại khu vực miền núi. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm sinh kế cho người dân địa phương, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở các xã vùng cao.
Nhằm phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên rừng, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cộng đồng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, Tiểu dự án 1 thuộc Dự án 3 được triển khai tại 10 xã miền núi gồm Sơn Động, Vân Sơn, An Lạc, Tây Yên Tử, Yên Định, Đại Sơn, Biển Động, Đèo Gia, Sơn Hải và Sa Lý. Đây đều là những địa phương có diện tích rừng lớn, địa hình phức tạp, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Với sự quan tâm của Trung ương, sự chỉ đạo quyết liệt của tỉnh cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành và chính quyền địa phương, chính sách hỗ trợ và khoán bảo vệ rừng đã từng bước đi vào cuộc sống. Giai đoạn 2021 - 2025, tổng nguồn vốn thực hiện Tiểu dự án đạt trên 33 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương. Từ nguồn lực này, hơn 58.680 ha rừng được hỗ trợ và khoán bảo vệ, tạo điều kiện cho trên 9.500 lượt người dân tham gia trực tiếp vào công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Điều đáng ghi nhận là hiệu quả của chính sách không chỉ được phản ánh qua diện tích rừng được bảo vệ hay số lượng người dân tham gia, mà còn thể hiện ở sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức của cộng đồng. Nếu như trước đây, ở một số địa phương, người dân chủ yếu nhìn nhận rừng là nguồn tài nguyên để khai thác thì nay tư duy ấy đã từng bước thay đổi. Nhiều người dân hiểu rằng giữ rừng cũng chính là giữ nguồn nước, giữ môi trường sống, giữ sinh kế và tạo điều kiện phát triển lâu dài cho con em mình trong tương lai.
Từ chỗ là đối tượng thụ hưởng chính sách, người dân ngày càng trở thành chủ thể trong công tác bảo vệ rừng. Nhiều hộ gia đình tích cực tham gia tuần tra, kiểm tra, phát hiện và phối hợp xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp. Nhiều cộng đồng dân cư đã phát huy vai trò tự quản, chủ động tham gia bảo vệ rừng, góp phần hạn chế tình trạng xâm hại rừng, khai thác lâm sản trái phép và nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng ngay từ cơ sở.
Cùng với hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng, Tiểu dự án còn mang lại những tác động tích cực đối với đời sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thông qua chính sách hỗ trợ và khoán bảo vệ rừng, nhiều hộ gia đình có thêm nguồn thu nhập, từng bước cải thiện đời sống. Dù mức hỗ trợ chưa phải là nguồn thu nhập lớn, song đây là nguồn động viên thiết thực, góp phần giảm bớt khó khăn, đồng thời tạo động lực để người dân gắn bó hơn với công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Thực tiễn triển khai cho thấy, khi quyền lợi của người dân gắn với trách nhiệm bảo vệ rừng, hiệu quả quản lý rừng được nâng lên rõ rệt. Đây cũng là một trong những giá trị nổi bật mà chương trình mang lại, không chỉ hỗ trợ người dân về kinh tế mà còn góp phần xây dựng ý thức cộng đồng, nâng cao trách nhiệm xã hội trong bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Từ góc độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia, Tiểu dự án 1 thuộc Dự án 3 đã cho thấy cách tiếp cận đúng đắn khi đặt người dân vào vị trí trung tâm của quá trình thực hiện chính sách. Bảo vệ rừng không còn là nhiệm vụ riêng của lực lượng chức năng hay chủ rừng, mà trở thành trách nhiệm chung của cả cộng đồng. Chính sự tham gia tích cực của người dân đã tạo thêm một "lá chắn xanh" vững chắc, góp phần bảo vệ hiệu quả tài nguyên rừng trên địa bàn.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai vẫn còn những khó khăn nhất định. Mức hỗ trợ bảo vệ rừng hiện nay còn thấp so với yêu cầu thực tế; đời sống của một bộ phận người dân vùng núi còn nhiều khó khăn; địa bàn quản lý rộng, địa hình phức tạp; việc bố trí nguồn vốn ở một số thời điểm chưa thực sự đáp ứng yêu cầu tiến độ triển khai. Những khó khăn này đòi hỏi cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện trong thời gian tới.
Bước sang giai đoạn 2026 - 2030, Bắc Ninh tiếp tục xác định bảo vệ và phát triển rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Cùng với việc bảo vệ nghiêm ngặt diện tích rừng tự nhiên hiện có, tỉnh sẽ chú trọng phát triển rừng trồng chất lượng cao, rừng gỗ lớn, mở rộng các mô hình kinh tế dưới tán rừng, phát triển cây dược liệu, thúc đẩy dịch vụ môi trường rừng và đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý tài nguyên rừng.
Đồng thời, tiếp tục phát huy vai trò của cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ rừng; tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức; tạo điều kiện để người dân tham gia nhiều hơn vào các hoạt động phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững. Đây được xác định là giải pháp quan trọng để vừa bảo vệ hiệu quả tài nguyên rừng, vừa nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Nhìn lại chặng đường 2021 - 2025, có thể khẳng định Tiểu dự án 1 thuộc Dự án 3 đã góp phần quan trọng trong việc hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ rừng gắn với phát triển sinh kế bền vững. Những cánh rừng xanh được gìn giữ hôm nay không chỉ mang ý nghĩa về môi trường mà còn là nền tảng cho phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đó cũng là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của các chính sách dân tộc khi được triển khai đúng hướng, sát thực tiễn và lấy người dân làm trung tâm của quá trình phát triển.
Sau khi hợp nhất tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh hiện có trên 157.700 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó gần 55.000 ha rừng tự nhiên. Toàn tỉnh có 70 xã, phường có rừng với diện tích phân bố chủ yếu tại khu vực miền núi. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm sinh kế cho người dân địa phương, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở các xã vùng cao.